Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 28/3-3/4/2026
Tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá; nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm trong công tác đấu thầu; chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ ngày 28/3-3/4/2026.

Tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc vừa ký Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 01/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá.
Công điện nêu rõ, trong phạm vi, lĩnh vực, thẩm quyền quản lý, các bộ ngành, địa phương tăng cường triển khai theo dõi sát diễn biến thị trường, kịp thời thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu trong nước, ổn định giá cả, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, găm hàng, đầu cơ, tăng giá bất hợp lý, chủ động kiểm tra yếu tố hình thành giá theo quy định tại Luật giá và theo thẩm quyền khi hàng hóa có biến động bất thường, tăng cường kiểm tra chấp hành pháp luật về giá và pháp luật có liên quan để xử lý các hành vi vi phạm theo quy định nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng; trong đó, điều hòa cung cầu các mặt hàng thực phẩm phục vụ nhu cầu trong nước giữa các vùng, địa phương và nhu cầu xuất khẩu; xử lý kịp thời các trường hợp găm hàng, đẩy giá vật liệu xây dựng tăng cao; điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt phối hợp với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát...
Đẩy mạnh huy động người Việt Nam ở nước ngoài giới thiệu sản phẩm, phát triển kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài
Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 3/4/2026 về việc đẩy mạnh công tác huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030.
Chỉ thị đặt mục tiêu huy động người Việt Nam ở nước ngoài phát huy vai trò chiến lược, là lực lượng tại chỗ trong hoạt động giới thiệu, tiêu thụ và phân phối sản phẩm Việt Nam, giữ vững các thị trường truyền thống, đưa hàng hóa Việt Nam vào các hệ thống phân phối, siêu thị, trung tâm thương mại lớn, có uy tín, tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, nhất là tại các thị trường ta đang có lợi thế, có cộng đồng người Việt đông đảo; ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA).
Phấn đấu đến năm 2030, huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam tại tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ có sự hiện diện của cộng đồng người Việt Nam, huy động tất cả các hội doanh nhân người Việt Nam tại các nước tham gia, hình thành mạng lưới phân phối hàng hóa Việt Nam do người Việt Nam đóng vai trò chủ đạo.
Tăng mạnh tỷ trọng hàng Việt Nam trong hệ thống phân phối của người Việt Nam ở nước ngoài, đẩy mạnh thương mại điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp gắn liền với ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và quảng bá hàng Việt Nam bằng các hình thức đa dạng, hiện đại.
Gắn kết công tác huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam với việc nâng cao sức cạnh tranh, chống hàng giả, gian lận thương mại, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ thương hiệu quốc gia.
Đẩy mạnh đa dạng hóa các hoạt động, nhất là các hội chợ, triển lãm quy mô lớn, có uy tín; khuyến khích tổ chức chuỗi các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư, quảng bá có sự tham gia của doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài; khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài nắm bắt, thông tin cho các doanh nghiệp trong nước về tình hình thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, các chính sách nhập khẩu, các quy định, biện pháp bảo hộ thương mại; đồng thời hỗ trợ bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ tranh chấp thương mại...
Tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm trong công tác đấu thầu
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 3/4/2026 về việc tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm trong công tác đấu thầu.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước tổ chức rà soát toàn diện công tác quản lý đầu tư, xây dựng, mua sắm, bảo đảm chặt chẽ từ khâu khảo sát, lập, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án, tổng mức đầu tư, thiết kế, dự toán, đến khâu đấu thầu, xây dựng công trình, nghiệm thu, thanh toán, quyết toán, bảo đảm hiệu quả đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn, tuân thủ quy định của pháp luật.
Tổ chức rà soát các dự án BT đã, đang và dự kiến triển khai, chỉ quyết định chủ trương đầu tư, phê duyệt các dự án thật sự cần thiết, cấp bách, có hiệu quả kinh tế - xã hội, phù hợp quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; không đề xuất triển khai dự án BT đối với các công trình có thể thực hiện bằng hình thức đầu tư khác (như áp dụng loại hợp đồng BOT, BLT hoặc có thể bố trí vốn đầu tư công hoặc thu hút nguồn vốn tư nhân thông qua dự án đầu tư kinh doanh). Trường hợp sử dụng quỹ đất để thanh toán, phải xác định rõ vị trí, diện tích, sự phù hợp với quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, giá trị dự kiến của quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư khi lập dự án theo đúng quy định của pháp luật, hiệu quả, tính khả thi, tránh nguy cơ dẫn đến phát sinh lãi vay chậm thanh toán và các vướng mắc, tranh chấp khác khi thanh toán cho nhà đầu tư.
Chịu trách nhiệm toàn diện trong việc thực hiện công tác đấu thầu thuộc phạm vi quản lý, không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không làm phát sinh cơ chế "xin - cho", gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện công tác đấu thầu trong phạm vi phụ trách; thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn bộ quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư...
Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, tổ chức thực hiện ngay các giải pháp sau: Xác định giá gói thầu bảo đảm tính đúng, tính đủ chi phí để thực hiện gói thầu đáp ứng yêu cầu về chất lượng, hiệu quả, tuân thủ quy định của pháp luật. Khi lập giá gói thầu cần chú trọng rà soát, đánh giá kỹ lưỡng sự phù hợp về giá, phương pháp xác định giá, trường hợp cần thiết có thể tham vấn thị trường hoặc tham khảo thông tin, dữ liệu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để so sánh, đánh giá sự phù hợp về giá của hàng hóa, thiết bị, dịch vụ. Nghiêm cấm mọi hành vi nâng khống giá gói thầu.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam được xem xét, quyết định xóa phí bảo lãnh cho doanh nghiệp phá sản
Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc ký Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại ban hành kèm theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Cụ thể, Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Điều 9 Quy chế về phí bảo lãnh. Theo quy định mới, phí bảo lãnh bao gồm:
- Phí thẩm định hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn: 500.000 đồng cho một hồ sơ và nộp cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng với hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn;
- Phí bảo lãnh vay vốn: 0,5%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh.
Phí bảo lãnh thu được, Ngân hàng Phát triển Việt Nam được hạch toán toàn bộ vào thu nhập của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định xóa phí bảo lãnh đối với doanh nghiệp đã phá sản, giải thể và sau khi thanh lý, xử lý toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hướng dẫn về hồ sơ, trình tự, thủ tục và chịu trách nhiệm về quyết định xóa phí bảo lãnh.
Tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN).
Chỉ thị yêu cầu các bộ, ban, ngành, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các doanh nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có liên quan thực hiện một số giải pháp sau: Phấn đấu tiết kiệm điện tối thiểu 3,0% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026; trong các tháng cao điểm nắng nóng (tháng 4, 5, 6, 7), thực hiện tiết kiệm tối thiểu 10% điện năng tiêu thụ. Phấn đấu hàng năm có khoảng 10% cơ quan công sở và 10% hộ gia đình trên cả nước lắp đặt, sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ (ĐMTMN); hoặc phấn đấu tổng công suất phát triển đạt 20% công suất lắp đặt ĐMTMN trong kế hoạch phát triển ĐMTMN, giai đoạn 2026 – 2030 của các tỉnh/thành phố. Cơ quan, công sở rà soát, thay thế, loại bỏ các thiết bị tiêu thụ điện hiệu suất thấp; ưu tiên đầu tư, mua sắm thiết bị có hiệu suất năng lượng cao theo quy định; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong giám sát, quản lý tiêu thụ điện tại cơ quan, đơn vị. Xây dựng và triển khai kế hoạch tiết kiệm điện đối với hệ thống chiếu sáng công cộng, tắt toàn bộ hệ thống chiếu sáng cho mục đích quảng cáo, trang trí ngoài trời; bảo đảm phấn đấu tối thiểu tiết kiệm 30% tổng điện năng tiêu thụ. Điều chỉnh thời gian vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng theo nhu cầu thực tế; thực hiện tắt, giảm công suất chiếu sáng tại các khu vực ít nhu cầu, các khung giờ cao điểm và sau 23h; bảo đảm tiết kiệm điện nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu về an toàn giao thông, an ninh trật tự. Các nhà hàng, khách sạn, cơ sở dịch vụ thương mại, tổ hợp văn phòng và tòa nhà chung cư tắt hoặc giảm tối thiểu 50% công suất chiếu sáng quảng cáo trang trí ngoài trời vào cao điểm buổi tối của hệ thống điện theo yêu cầu của đơn vị điện lực tại địa phương; tuân thủ các quy định về chiếu sáng tiết kiệm và hiệu quả…
Thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc xe điện tại các khu chung cư
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 27/CĐ-TTg ngày 31/3/2026 chỉ đạo các bộ ngành, địa phương thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc xe điện tại các khu chung cư.
Để khẩn trương hoàn thiện quy chuẩn, quy định, tăng cường quản lý đảm bảo an toàn, phòng chống cháy trong sử dụng và thúc đẩy phát triển hạ tầng phục vụ chỗ để xe, trạm sạc, trạm đổi pin cho xe điện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
(i) Đẩy mạnh truyền thông, công khai, minh bạch thông tin liên quan đến phát triển giao thông xanh, hạ tầng trạm sạc điện đảm kịp thời, đầy đủ, chính xác, hiệu quả.
(ii) Xây dựng lại các quy định chính sách, quy chuẩn, quy hoạch phát triển hạ tầng phục vụ chỗ đỗ xe, trạm sạc, trạm đổi pin.... Không được để sơ hở tạo cơ hội cho tham nhũng tiêu cực, lãng phí, lợi ích nhóm... khi tổ chức thực hiện, phải thường xuyên giám sát, kiểm tra xử lý nếu xảy ra vi phạm.
(iii) Tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã được Chính phủ chỉ đạo tại các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định, Công điện,... liên quan đến phát triển giao thông, hạ tầng giao thông xanh, năng lượng xanh.
Các trường hợp tạm dừng hoạt động, đóng cảng cạn
Chính phủ ban hành Nghị định số 106/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn.
Trong đó, Nghị định quy định việc tạm dừng hoạt động của cảng cạn được thực hiện trong trường hợp phục vụ việc bảo dưỡng, sửa chữa cảng cạn hoặc thực hiện các yêu cầu khác theo quy định của pháp luật.
Việc đóng cảng cạn được thực hiện trong trường hợp sau:
a) Vì lý do bảo đảm quốc phòng, an ninh;
b) Việc khai thác cảng cạn có nguy cơ gây mất an toàn, gây sự cố công trình ảnh hưởng đến an toàn của người sử dụng, an toàn của công trình lân cận, môi trường và của cộng đồng;
c) Dự án đầu tư cảng cạn chấm dứt theo Quyết định của Cơ quan đăng ký đầu tư hoặc chủ đầu tư, doanh nghiệp khai thác cảng cạn không có nhu cầu tiếp tục khai thác cảng cạn.
Đến năm 2045, Việt Nam xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 2/4/2026 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/1/2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Chương trình).
Chương trình phấn đấu đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hoá thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á. Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới đồng bộ, thống nhất, cân đối giữa các vùng, miền, có khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường, kiến trúc tiêu biểu giàu bản sắc, xanh, hiện đại, thông minh. Xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỉ trọng lớn.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ
Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ. Trong đó, đáng chú ý là các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ.
Nghị định quy định 4 hình thức hỗ trợ sau:
1. Hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư nhận chuyển giao công nghệ từ tổ chức khoa học và công nghệ;
2. Khuyến khích hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ quan, tổ chức, cá nhân để triển khai các dự án đầu tư đổi mới công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
3. Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ;
4. Hỗ trợ phát triển mạng lưới tổ chức thực hiện hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, cá nhân kinh doanh.
Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02/4/2026 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 (Chiến lược).
Mục tiêu của Chiến lược nhằm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, quyết định nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.
Quy định mới về cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn
Thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn đã được quy mới tại Nghị định số 113/2026/NĐ-CP.
Nghị định quy định tổ chức, cá nhân đề nghị cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn quy định tại Điều 15 của Nghị định này nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với trường hợp do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp hoặc trực tiếp tại bất kỳ Trung tâm Phục vụ hành chính công đối với trường hợp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ hoặc qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật hoặc trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) hoặc phương thức tiếp nhận khác theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ.
Quy định về trao đổi, chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon
Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon.
Nghị định này quy định về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon với đối tác quốc tế nhằm thực hiện Thỏa thuận Paris thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính khác.
Ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để cắt, giảm lũ cho hạ du
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP về thực hiện một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước, trong đó nêu rõ nguyên tắc, quy trình vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp.
Về vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp, Nghị quyết nêu rõ, vận hành hồ chứa phải bảo đảm nguyên tắc tuân thủ các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn đập, hồ chứa nước, phòng thủ dân sự, phòng, chống thiên tai và pháp luật có liên quan.
Ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để thực hiện nhiệm vụ cắt, giảm lũ cho hạ du khi vận hành liên hồ chứa, đơn hồ trong mùa mưa lũ và trong tình huống dự báo có thể xảy ra mưa lũ lớn, đặc biệt lớn trên lưu vực.
Phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong vận hành hồ chứa, đảm bảo rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và rõ kết quả.
Phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030 (Chương trình).
Mục tiêu của Chương trình nhằm hình thành và phát triển đội ngũ giám đốc điều hành của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân có trình độ, năng lực quản trị hiện đại, tư duy chiến lược, có bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo, có tầm nhìn, đạo đức, văn hoá kinh doanh, thượng tôn pháp luật, tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội; có năng lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, dẫn dắt doanh nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chương trình phấn đấu đến năm 2030, đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành và cán bộ quản lý của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trên toàn quốc, trong đó tối thiểu 25% học viên là nữ.
Điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 89/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới; tổ chức, hoạt động của cơ sở đăng kiểm; niên hạn sử dụng của xe cơ giới.
Nghị định 89/2026/NĐ-CP quy định điều kiện chung về kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới như sau:
Đáp ứng các quy định tại Nghị định này, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm xe cơ giới, cơ sở kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy (sau đây viết tắt là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm) và được tổ chức đánh giá sự phù hợp đánh giá sự phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm; trường hợp chưa có tổ chức đánh giá sự phù hợp đánh giá cơ sở đăng kiểm hoặc có Tổ chức đánh giá sự phù hợp nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu đánh giá của cơ sở đăng kiểm thì phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra xác nhận cơ sở đăng kiểm phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm.
Có giấy tờ, tài liệu theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về đất đai; kết nối giao thông và đấu nối đường bộ theo quy định; bảo vệ môi trường, an toàn, vệ sinh lao động, phòng cháy và chữa cháy và pháp luật khác có liên quan khi xây dựng, đưa cơ sở đăng kiểm vào hoạt động.
Bán chất gây nghiện, thực phẩm không bảo đảm an toàn cho trẻ em bị phạt tới 40 triệu đồng
Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em.
Nghị định quy định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Cung cấp sản phẩm, dịch vụ không an toàn, gây tổn hại cho trẻ em; bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em; cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.
Các trường hợp miễn kinh phí công đoàn
Chính phủ ban hành Nghị định số 105/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công đoàn về tài chính công đoàn; trong đó, quy định rõ các trường hợp được miễn đóng kinh phí công đoàn.
Nghị định quy định doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện giải thể theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh xem xét và ban hành quyết định miễn số tiền chưa đóng kinh phí công đoàn theo quy định phân cấp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khi công đoàn tham gia phương án giải quyết nợ (trong đó có nợ đóng kinh phí công đoàn) của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện giải thể.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện phá sản theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản, Luật Phục hồi, Phá sản được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh xem xét và ban hành quyết định miễn số tiền chưa đóng kinh phí công đoàn theo quy định phân cấp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khi công đoàn nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Chấn chỉnh công tác kiểm soát giết mổ gia súc
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 26/CĐ-TTg ngày 30/3/2026 chấn chỉnh công tác kiểm soát giết mổ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát các cơ sở giết mổ nhằm ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp thu gom, vận chuyển, đưa sản phẩm động vật không đủ điều kiện ra tiêu thụ trên thị trường và kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi hợp thức hóa quy định của pháp luật đối với cơ sở giết mổ không đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm; chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra vi phạm.
Kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật; tăng cường kiểm tra tại các điểm tập kết, trung chuyển, chợ đầu mối; kiên quyết xử lý dứt điểm tình trạng vận chuyển sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc, không đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm.
Chỉ đạo, phân công các lực lượng của địa phương tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ tại các cơ sở thu gom, giết mổ gia súc; tăng cường công tác kiểm tra và truy xuất nguồn gốc đối với việc vận chuyển lợn tiêu thụ tại địa phương; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm; xử lý trách nhiệm người đứng đầu; kiên quyết thay thế cán bộ vi phạm, suy thoái đạo đức công vụ; chuyển cơ quan điều tra đối với trường hợp có dấu hiệu tội phạm.
Bố trí ổn định lực lượng thú y tại cơ sở, bảo đảm thực hiện hiệu quả kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và phòng, chống dịch bệnh; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thực thi công vụ; nâng cao năng lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính.
Điều kiện để được công nhận là đại học
Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.
Nghị định quy định, cơ sở giáo dục đại học được công nhận là đại học khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
1- Về pháp lý và chủ thể sở hữu
Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập phải được cơ quan quản lý trực tiếp chấp thuận.
Đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục phải đạt được sự đồng thuận của các nhà đầu tư đại diện ít nhất 75% tổng vốn góp.
2- Về đội ngũ giảng viên
Tỷ lệ giảng viên quốc tế, bao gồm cả giảng viên là người Việt Nam ở nước ngoài và người có quốc tịch nước ngoài, tham gia giảng dạy chương trình đào tạo chính quy các trình độ của giáo dục đại học, được xác định trong khoảng thời gian 12 tháng đến ngày 31 tháng 12 hằng năm, đạt tối thiểu 5,0% tổng số giảng viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học.
Đội ngũ giảng viên cơ hữu trình độ tiến sĩ đạt tối thiểu 60%.
3- Về tổ chức, quy mô, cơ cấu đào tạo
Có ít nhất 03 trường thuộc cơ cấu tổ chức, đáp ứng các tiêu chí quy định tại Điều 5 Nghị định này; có ít nhất 25 ngành đào tạo ở mỗi trình độ của giáo dục đại học đang hoạt động theo quy định hiện hành.
Quy mô đào tạo chính quy đạt từ 15.000 người học trở lên; tỷ lệ người học sau đại học trên tổng quy mô đào tạo chính quy đạt tối thiểu 20%; tỷ lệ người học quốc tế theo học chương trình đào tạo chính quy cấp văn bằng đạt tối thiểu 3,0%.
4- Về nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo
Tỷ lệ sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bình quân của một giảng viên cơ hữu ít nhất trong một năm là 01 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích; tỷ trọng thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng nguồn thu sự nghiệp của cơ sở giáo dục đại học.
Tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là tổng thu hoạt động trong năm của cơ sở giáo dục đại học từ các hoạt động thường xuyên (bao gồm cả ngân sách nhà nước, nhà đầu tư hỗ trợ) và thực hiện nhiệm vụ không thường xuyên, không bao gồm kinh phí đầu tư do Nhà nước hoặc nhà đầu tư cấp.
5- Về tài chính
Có nguồn thu hợp pháp ổn định để bảo đảm tự chủ chi thường xuyên theo quy định đối với cơ sở giáo dục đại học công lập; thực hiện công khai, minh bạch tài chính; báo cáo tài chính hằng năm được lập, kiểm toán đúng chế độ.
6- Các điều kiện về đội ngũ giảng viên, tổ chức, quy mô và cơ cấu đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo phải được duy trì liên tục ít nhất 03 năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm nộp hồ sơ.
Tiêu chuẩn giáo viên dạy lái xe
Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về tiêu chuẩn giáo viên dạy lái xe.
Điều 10 của Nghị định quy định iêu chuẩn giáo viên dạy lái xe như sau:
1. Giáo viên dạy lý thuyết đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
a) Có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành luật, công nghệ ô tô, công nghệ kỹ thuật ô tô, lắp ráp ô tô hoặc các ngành nghề khác có nội dung đào tạo chuyên ngành pháp luật hoặc ô tô chiếm 30% trở lên;
b) Có một trong các văn bằng, chứng chỉ về trình độ nghiệp vụ sư phạm sau:
Bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên; Bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, cao đẳng sư phạm kỹ thuật.
Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ sơ cấp nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 1 trở lên.
2. Giáo viên dạy thực hành lái xe đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
a) Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề hoặc bằng nghề trở lên;
b) Có giấy phép lái xe hạng tương ứng hoặc cao hơn hạng xe đào tạo;
c) Có một trong các văn bằng, chứng chỉ về trình độ nghiệp vụ sư phạm sau:
Bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên; Bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, cao đẳng sư phạm kỹ thuật.
Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ sơ cấp nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 1 trở lên;
d) Đã qua tập huấn về nghiệp vụ dạy thực hành lái xe theo chương trình khung quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này.
Cập nhật ngày 4/4/2026





