Đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đang dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực tiễn phát triển du lịch trong thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới, cụ thể:
Một là, chính sách ưu đãi đầu tư, thuế đối với các dự án hội nghị, triển lãm, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, giải trí, chăm sóc sức khỏe và du lịch đêm chưa thực sự phù hợp với đặc thù về vốn đầu tư, thời gian thu hồi vốn và mức độ lan tỏa; chưa tạo động lực đủ mạnh để cải tạo, nâng cấp cơ sở hiện có, trong khi vẫn có xu hướng tập trung mở rộng quy mô lưu trú.
Hai là, nhu cầu của nhóm khách nghỉ dưỡng dài ngày, người làm việc từ xa ngày càng đa dạng nhưng chưa có cơ chế pháp lý và chính sách phù hợp, dẫn đến khó khăn trong quản lý cư trú, lao động, thuế và cung ứng dịch vụ cho nhóm khách này.
Ba là, doanh nghiệp du lịch còn gặp khó khăn trong đầu tư thường xuyên cho đào tạo nghề, ngoại ngữ, kỹ năng số, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường quốc tế; cơ chế hỗ trợ, khuyến khích chưa gắn đầy đủ với chi phí thực tế và kết quả đầu tư vào năng lực cạnh tranh.
Bốn là, sự tham gia của cộng đồng, hợp tác xã, hộ kinh doanh vào cung cấp các sản phẩm trải nghiệm tại làng nghề, vùng nông nghiệp, điểm đến văn hóa còn hạn chế do thiếu cơ chế phù hợp với quy mô hoạt động, đồng thời chưa làm rõ đầy đủ trách nhiệm về an toàn, bảo hiểm, hoàn tiền và trách nhiệm của các nền tảng cung cấp dịch vụ.
Tạo cơ sở pháp lý cho các nhóm chính sách phát triển du lịch
Trong bối cảnh đó, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam để thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng theo Nghị quyết số 26-NQ/TW là hết sức cần thiết. Nghị quyết không chỉ tháo gỡ điểm nghẽn, khắc phục những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành, mà còn có một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển du lịch Việt Nam.
Đồng thời, việc ban hành dự án Nghị quyết sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các nhóm chính sách có thể thực hiện, kiểm tra và đánh giá; huy động đầu tư vào các dự án động lực phát triển du lịch, các mô hình kinh doanh du lịch mới, phát triển thương hiệu và sản phẩm du lịch, nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch mạnh, hỗ trợ phát triển hạ tầng dịch vụ du lịch.
Góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2030 phát triển mạnh 3 cực tăng trưởng Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; 10 trung tâm du lịch trọng điểm; 20 khu du lịch quốc gia; 15 tập đoàn, tổng công ty có thương hiệu mạnh, sức cạnh tranh quốc tế; bảo đảm khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú, 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp.
Dự thảo lựa chọn đề xuất bốn cơ chế có quan hệ bổ trợ: thúc đẩy các dự án tạo động lực phát triển du lịch; đào tạo, thương hiệu tạo năng lực cạnh tranh; phát triển các mô hình kinh doanh mới; ưu tiên hỗ trợ phát triển hạ tầng dịch vụ du lịch.
Ưu đãi đối với dự án du lịch động lực
Điều kiện được hưởng ưu đãi
Dự thảo nêu rõ để được hưởng ưu đãi, dự án đáp ứng đầy đủ các điều kiện dưới đây:
a) Đầu tư tại địa bàn quy định; có đầy đủ hồ sơ về đầu tư, đất đai, xây dựng và chấp thuận chuyên ngành khác theo quy định của pháp luật và hình thành tổ hợp du lịch - văn hóa, thể thao, giải trí, mua sắm; tổ hợp kinh tế đêm; hạ tầng du lịch quy mô lớn;
b) Đầu tư tạo sản phẩm du lịch mới tại cơ sở hoặc dự án đầu tư nâng cấp làm tăng ít nhất 20% năng lực cung ứng sản phẩm chính so với bình quân năm liền trước khi đầu tư, xác định theo thiết kế, công suất, số suất phục vụ hoặc loại sản phẩm, không bao gồm việc thay thế, sửa chữa tài sản thường xuyên hoặc chỉ tăng giá bán;
c) Đầu tư mới tạo ít nhất 300 việc làm trực tiếp thường xuyên; dự án đầu tư mở rộng tạo thêm ít nhất 100 việc làm trực tiếp thường xuyên so với bình quân năm liền trước khi đầu tư, hoàn thành chậm nhất vào cuối năm hoạt động thứ ba, xác định theo hợp đồng lao động và dữ liệu bảo hiểm xã hội;
d) Có phương án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, giảm chất thải, bảo vệ môi trường, thực hiện quyền sở hữu trí tuệ, nghĩa vụ bảo tồn và quyền tiếp cận hợp pháp của cộng đồng theo quy định của pháp luật;
đ) Chậm nhất từ năm hoạt động thứ ba, doanh thu từ sản phẩm mới chiếm ít nhất 30% tổng doanh thu của phần dự án đề nghị ưu đãi và được hạch toán riêng.
Ưu đãi đầu tư nêu trên không áp dụng đối với các dự án đầu tư casino, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược, sân golf.
Chính sách ưu đãi
Doanh nghiệp có dự án đáp ứng điều kiện nêu trên được áp dụng Khoản 3, Khoản 4 Điều 17 Luật Đầu tư. Doanh nghiệp có dự án được xác nhận được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 10 năm đối với thu nhập từ hoạt động đủ điều kiện; được giảm 50% số thuế phải nộp khác ngoài thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đầu tiên.
Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi tính liên tục từ năm đầu tiên dự án hoặc phần đầu tư mở rộng có doanh thu; thời gian miễn, giảm thuế tính liên tục từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế, trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong 3 năm đầu kể từ năm đầu tiên có doanh thu thì tính từ năm thứ tư.
Đối với dự án đang hoạt động, ưu đãi áp dụng đối với thu nhập của phần đầu tư mở rộng được xác nhận, không áp dụng lại đối với thu nhập của tài sản, hoạt động có trước; trường hợp không hạch toán riêng được thì thu nhập được phân bổ theo tỷ lệ nguyên giá tài sản cố định tăng thêm sử dụng cho phần đầu tư mở rộng cấp trên tổng nguyên giá tài sản cố định sử dụng của hoạt động tương ứng, không tính giá trị đánh giá lại tài sản.
Quyền hưởng ưu đãi không phụ thuộc việc dự án thuộc danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc ngưỡng vốn của cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt; áp dụng cả đối với phần đầu tư mở rộng của dự án được chấp thuận trước ngày 01 tháng 3 năm 2026 nếu khoản đầu tư đề nghị ưu đãi chưa đưa vào kinh doanh trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực.
Đối với cùng một khoản thu nhập, doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng cơ chế ưu đãi tại Nghị quyết này hoặc cơ chế ưu đãi khác; việc lựa chọn không làm phát sinh lại thời gian ưu đãi đã sử dụng và không miễn nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu.
Doanh nghiệp tự xác định, kê khai ưu đãi trên cơ sở quyết định xác nhận, chịu trách nhiệm về hồ sơ, số liệu, điều kiện thực tế; nội dung về thu nhập tính thuế, chuyển lỗ, khai, nộp, thanh tra, xử lý vi phạm thuế không quy định tại Nghị quyết này thực hiện theo pháp luật về thuế.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận dự án đủ điều kiện áp dụng chính sách ưu đãi trên cơ sở thẩm định của cơ quan chuyên môn về du lịch, phối hợp với cơ quan tài chính, cơ quan thuế và cơ quan chuyên ngành có liên quan; đối với dự án thực hiện tại từ hai tỉnh, thành phố trở lên thì xác nhận riêng đối với phần thực hiện tại từng địa phương, không tính trùng chỉ tiêu.
Đào tạo nhân lực và phát triển thương hiệu du lịch
Theo dự thảo, doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam, có hoạt động kinh doanh du lịch, mở mới cơ sở đào tạo, thực hiện đào tạo tối thiểu 500 học viên/năm được tính vào chi phí được trừ 150% khoản chi thực tế cho công tác đào tạo, đủ điều kiện quy định; phần tăng thêm bằng 50% khoản chi thực tế, không phải khoản ngân sách cấp hoặc hoàn trả bằng tiền trong 5 năm đầu.
Được tính tăng thêm khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế gồm: Chi phí đào tạo, đào tạo lại người lao động trong lĩnh vực du lịch; đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu, tên thương mại, quyền sở hữu trí tuệ có thể được bảo hộ theo pháp luật nước tiếp nhận, gắn với sản phẩm, dịch vụ du lịch cung cấp tại Việt Nam; chi bảo vệ quyền hợp pháp tại thị trường nước ngoài; nghiên cứu thị trường, giới thiệu sản phẩm, tham gia hội chợ chuyên ngành, xúc tiến trực tiếp, chiến dịch tiếp thị tại thị trường quốc tế nhằm đưa khách đến Việt Nam, có kế hoạch, đối tượng, sản phẩm đầu ra, hợp đồng, chứng từ thực hiện.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.
Cập nhật 6/10/2026



