• :
  • :
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Gắn công tác hòa giải ở cơ sở với xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

(laichau.gov.vn)

 Sáng nay (10/8), dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).

Gắn công tác hòa giải ở cơ sở với xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật- Ảnh 1.
Quốc hội dành 1 phút tưởng niệm đồng chí Saysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Lào - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Trước khi bước vào phiên thảo luận, Quốc hội đã dành 1 phút tưởng niệm đồng chí Saysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Lào, người bạn thân thiết, gắn bó của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và nhân dân Việt Nam.

Về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), ngày 5/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã báo cáo trước Quốc hội Tờ trình Dự án Luật. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 35 điều (tăng 02 điều so với Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013).

Thẩm tra về Dự án Luật, Ủy ban Văn hóa và Xã hội (Ủy ban) tán thành việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở như đề nghị của Chính phủ; cho rằng dự thảo Luật thể chế hóa cơ bản đầy đủ, kịp thời các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước; quy định những nội dung có tính nguyên tắc, đúng thẩm quyền của Quốc hội nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất và thuận lợi cho công tác hòa giải ở cơ sở; gắn công tác hòa giải ở cơ sở với xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật để phòng ngừa tranh chấp, tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của người dân…

Làm rõ phạm vi hòa giải ở cơ sở, nhất là đối với các vụ việc có liên quan đến vi phạm pháp luật

Thảo luận tại Hội trường sáng nay (10/8), đã có 17 ý kiến phát biểu trên tổng số 24 đại biểu đăng ký, các đại biểu Quốc hội cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở, đồng thời đánh giá cao sự chủ động, trách nhiệm của cơ quan soạn thảo và cơ quan chủ trì thẩm tra trong việc chuẩn bị hoàn thiện, cập nhật, bổ sung kịp thời hồ sơ dự án luật.

Các ý kiến phát biểu tập trung vào những vấn đề thiết thực gắn với việc giữ vững bản chất tự nguyện, tự quản, linh hoạt và nhân văn của hòa giải ở cơ sở, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức chính quyền địa phương, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả giải quyết mâu thuẫn tranh chấp ngay từ cơ sở với một số nội dung trọng tâm:

Thứ nhất, về chính sách của nhà nước và bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở: Nhiều ý kiến đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện chính sách nhằm phát huy sự tham gia của người có uy tín, chức sắc, chức việc tôn giáo, những người có kiến thức kỹ năng phù hợp, tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, đồng thời có chính sách phù hợp đối với các địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn khó khăn.

Đối với các quy định nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở, nhiều ý kiến đề nghị làm rõ cơ chế bảo đảm và phân bổ kinh phí, mức thù lao cho hòa giải viên, đồng thời đề nghị đánh giá đầy đủ cơ sở thực tiễn và cơ chế huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực hợp pháp của xã hội theo hướng công khai, minh bạch, không ảnh hưởng đến tính công bằng, vô tư trong hoạt động hòa giải.

Thứ hai, về tiêu chuẩn bầu, chỉ định và kiện toàn hòa giải viên, tổ hòa giải: Nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định để bảo đảm phù hợp với tính chất, đặc điểm của hoạt động hòa giải ở cơ sở, trong đó về tiêu chuẩn hòa giải viên phải chú trọng các yếu tố về uy tín, khả năng thuyết phục, hiểu biết pháp luật, kiến thức xã hội, am hiểu văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, hoàn cảnh của cộng đồng dân cư; đồng thời đề nghị tiếp tục nghiên cứu đơn giản hóa quy trình bầu, công nhận hòa giải viên, làm rõ điều kiện, trình tự, thẩm quyền chỉ định hòa giải viên và mối quan hệ giữa bầu, công nhận và chỉ định, bảo đảm tính khả thi, công khai, minh bạch và phù hợp với thực tiễn.

Thứ ba, về kết quả hòa giải thành: Một số ý kiến đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định về giá trị pháp lý của thỏa thuận hòa giải thành, trách nhiệm thực hiện thỏa thuận và cơ chế theo dõi, đôn đốc, đồng thời nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án theo hướng đơn giản, thuận lợi, phù hợp với tính chất của hòa giải ở cơ sở, bảo đảm cơ chế này thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn.

Thứ tư, về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và hòa giải trực tuyến: Nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định về hòa giải trực tuyến, nhất là điều kiện, trình tự thực hiện, xác định danh tính, giá trị pháp lý của hồ sơ, biên bản điện tử, bảo vệ dữ liệu và lưu trữ hồ sơ; đồng thời xác định rõ công nghệ trí tuệ nhân tạo chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế hòa giải viên, bảo đảm tính tự nguyện, nhân văn và quyền tự quyết của các bên.

Thứ năm, một số ý kiến đề nghị việc kiện toàn tổ hòa giải gắn với nhiệm kỳ của tổ dân phố hoặc thực hiện khi có biến động về nhân sự thay vì bắt buộc hằng năm; bổ sung cơ chế bảo đảm thù lao tương xứng đối với những người được mời tham gia hòa giải; làm rõ phạm vi hòa giải ở cơ sở, nhất là đối với các vụ việc có liên quan đến vi phạm pháp luật; xác định rõ tiêu chí, điều kiện đối với những trường hợp được hòa giải, không được hòa giải hoặc phải tạm dừng hòa giải; đồng thời đề nghị tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm phù hợp với yêu cầu sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhất là trong quá trình sắp xếp thôn, tổ dân phố.

Gắn công tác hòa giải ở cơ sở với xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật- Ảnh 2.
Đại biểu Sùng A Lềnh (Lào Cai) góp ý cho Dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Góp ý cụ thể cho Dự án Luật Hòa giải viên (sửa đổi) về kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở, đại biểu Sùng A Lềnh (Lào Cai) cho rằng, Điều 6 có quy định về cơ chế nhà nước hỗ trợ kinh phí để bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Quy định này thể hiện rõ trách nhiệm của nhà nước tạo nguồn lực ổn định để duy trì hoạt động của tổ hòa giải, nâng cao chất lượng bồi dưỡng, tập huấn và cũng bảo đảm kinh phí thực tế cho hòa giải viên.

Để quy định này thực sự đi vào cuộc sống, đại biểu đề nghị Chính phủ quy định cụ thể về định mức, nội dung chi và cơ chế phân bổ kinh phí phù hợp với đặc thù từng địa bàn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bảo đảm kinh phí cho các hoạt động thiết yếu như: Bồi dưỡng hòa giải viên, đi lại, tập huấn, biên soạn tài liệu, tuyên truyền và trang thiết bị hòa giải; đồng thời quy định rõ việc quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí xã hội hóa, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định và mang lại hiệu quả cao.

Gắn công tác hòa giải ở cơ sở với xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật- Ảnh 3.
Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) góp ý cho Dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Cần ưu tiên bảo đảm nguồn lực bồi dưỡng hòa giải viên biết tiếng dân tộc thiểu số, phát huy vai trò của người có uy tín

Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) đánh giá cao sự nỗ lực và tinh thần cầu thị của cơ quan chủ trì soạn thảo, nhất là việc tiếp tục làm rõ phạm vi hòa giải, hoàn thiện chính sách của nhà nước về cơ chế huy động nguồn lực, người có uy tín, người có chuyên môn tham gia hòa giải. Để góp phần hoàn thiện dự án luật, đại biểu đóng góp ý kiến về phạm vi hòa giải ở cơ sở tại Điều 3.

Đại biểu Dương Khắc Mai thống nhất với giải trình của Bộ Tư pháp rằng hòa giải viên không có trách nhiệm xác định hành vi vi phạm là vi phạm hành chính hay tội phạm hay không khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu vi phạm hành chính hoặc hình sự thì thực hiện nghĩa vụ thông báo theo khoản 5 Điều 12; ghi nhận việc cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục hướng dẫn việc nhận diện xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật được hòa giải. Tuy nhiên, một số vụ việc có thể vừa có dấu hiệu vi phạm phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý, vừa có nội dung dân sự mà pháp luật cho phép các bên tự thỏa thuận như bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Đây là ranh giới không dễ xác định đối với hòa giải viên ở cơ sở.

Vì vậy, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị tiếp tục rà soát Điều 3 gắn với khoản 5 Điều 12, làm rõ nguyên tắc khi phát hiện dấu hiệu vi phạm hành chính hoặc hình sự thì phải kịp thời thông báo, đồng thời chỉ tiếp tục hòa giải đối với nội dung pháp luật cho phép các bên tự thỏa thuận. Việc hòa giải không được làm chậm biện pháp bảo vệ người bị xâm hại hoặc cản trở quá trình xử lý vi phạm.

Về chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi quy định tại Điều 5 dự thảo, đại biểu cho rằng cần quan tâm đảm bảo các cơ chế được quy định trong luật có thể triển khai trong thực chất. Từ thực tiễn của tỉnh Lâm Đồng cho thấy, ở những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, dân cư sống phân tán, hiệu quả hòa giải không chỉ phụ thuộc vào kiến thức pháp luật mà còn gắn với khả năng sử dụng ngôn ngữ, am hiểu phong tục tập quán và uy tín của người tham gia hòa giải. Nếu không đảm bảo những điều kiện này thì các quy định của luật sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả trong thực tế, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Do đó, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát Điều 5 trong mối quan hệ với khoản 1 Điều 14, Điều 18 và Điều 25; đồng thời khi tổ chức thi hành cần ưu tiên bảo đảm nguồn lực bồi dưỡng hòa giải viên biết tiếng dân tộc thiểu số, phát huy vai trò của người có uy tín và xây dựng tài liệu nghiệp vụ phù hợp với ngôn ngữ, phong tục tập quán, điều kiện của từng địa bàn.

Để góp phần hoàn thiện vào Dự thảo Luật cũng như nâng cao tính khả thi của Luật sau này, đại biểu Chamaléa Thị Thủy (Ninh Thuận) góp ý về hoàn thiện chính sách dân tộc và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Gắn công tác hòa giải ở cơ sở với xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật- Ảnh 4.
Đại biểu Chamaléa Thị Thủy (Ninh Thuận) góp ý về hoàn thiện chính sách dân tộc và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho đồng bào dân tộc thiểu số - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Theo đại biểu Chamaléa Thị Thủy, báo cáo tổng kết thi hành luật năm 2013 đã chỉ rõ một bất cập lớn là chưa thể hiện rõ nguyên tắc ưu tiên quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số và chưa bảo đảm quyền tiếp cận ngôn ngữ trong hòa giải. Đồng bào dân tộc thiểu số khi xảy ra mâu thuẫn tranh chấp thường e ngại, gặp rào cản và khó có thể bày tỏ hết được tâm tư thầm kín của mình, dẫn đến sự lúng túng của hòa giải viên khi giải quyết.

Vì vậy, đại biểu Chamaléa Thị Thủy đánh giá cao việc Dự thảo Luật sửa đổi lần này đã bổ sung nguyên tắc tại khoản 8 của Điều 4 có quy định: Tiếng nói, chữ viết dùng trong hòa giải ở cơ sở là tiếng Việt. Các bên có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình.

Đồng thời tại khoản 4 của Điều 14 Dự thảo đã đưa vào quy định bắt buộc là đối với địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số để bảo đảm phù hợp với thành phần dân cư ở địa phương.

Theo đại biểu Chamaléa Thị Thủy, với quy định này, cùng với việc khuyến khích người có uy tín, già làng, trưởng bản tham gia hỗ trợ hòa giải tại khoản 4 Điều 5 và khoản 1 Điều 18 là một bước đi đột phá, thể hiện sự tôn trọng sâu sắc bản sắc văn hóa và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Về ứng dụng công nghệ thông tin trong hòa giải ở cơ sở và giải pháp đột phá về cơ chế chỉ định hòa giải viên, đại biểu Chamaléa Thị Thủy cho rằng, Dự thảo Luật khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật số trong hoạt động hòa giải tại khoản 4 Điều 5 và cho phép thực hiện hòa giải trực tuyến tại khoản 1 của Điều 25. Đây là một xu thế tất yếu nhằm giảm thiểu chi phí và tăng tính linh hoạt.

Tuy nhiên, thực tế tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hạ tầng số còn yếu, năng lực tiếp cận công nghệ của hòa giải viên còn hạn chế. Do đó đại biểu kiến nghị Dự thảo Luật cần có quy định linh hoạt về lộ trình áp dụng và có chính sách hỗ trợ hạ tầng số phù hợp với từng địa bàn khó khăn.

Bên cạnh đó, đại biểu Chamaléa Thị Thủy ủng hộ việc bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên tại Điều 9 Dự thảo Luật. Theo đại biểu, thực tế thời gian qua, việc bầu hòa giải viên ở một số nơi gặp khó khăn trong trường hợp bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, hoặc bầu đi bầu lại nhiều lần không đủ số lượng, thành phần theo quy định. Việc bổ sung cơ chế chỉ định tại khoản 1 Điều 9 trong các trường hợp bầu bổ sung không đạt, bầu lại không thành hoặc gặp sự kiện bất khả kháng là vô cùng cần thiết để kịp thời kiện toàn tổ hòa giải, bảo đảm hoạt động giải quyết tranh chấp không bị gián đoạn.

Tuy nhiên, để giữ vững bản chất tự quản, dân chủ của tổ hòa giải ở cơ sở, đại biểu Chamaléa Thị Thủy đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung vào Điều 9 quy định: Việc chỉ định hòa giải viên phải có sự bàn bạc thống nhất và lấy ý kiến của các tổ chức chính trị xã hội là thành viên của Mặt trận ở địa phương như là Chi hội Thanh niên, Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi… và đại diện cộng đồng dân cư tại tổ, thôn, phố về danh sách dự kiến trước khi Trưởng ban công tác Mặt trận chính thức lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Gắn công tác hòa giải ở cơ sở với xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật- Ảnh 5.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng giải trình trước Quốc hội về Dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Để hòa giải ở cơ sở mang tính xã hội và dân chủ

Giải trình trước Quốc hội về những vấn đề đại biểu quan tâm, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho rằng, các ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội rất sâu sắc, tâm huyết, trách nhiệm và mang tính thực tế rất cao. 

"Chúng tôi thấy rất xác đáng và có giá trị pháp lý, thực tiễn để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo luật", Bộ trưởng nhấn mạnh.

Trên tinh thần đó, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng đã làm rõ thêm một số nội dung mà đại biểu Quốc hội quan tâm:

Thứ nhất, liên quan đến cơ chế bầu và chỉ định hòa giải viên, Bộ trưởng cho biết, về vị trí, về cơ chế bầu, tiếp tục duy trì bổ sung việc bầu hòa giải viên trong dự thảo luật. Đây là phương án tối ưu nhằm hài hòa giữa tính khách quan cộng đồng cũng như bảo đảm tính hiệu quả quản lý nhà nước.

Bộ trưởng cho biết, bản chất tự quản, dân chủ của hoạt động hòa giải ở cơ sở hình thức bầu là hình thức chủ đạo, giúp cho cộng đồng dân cư trực tiếp lựa chọn được người có uy tín, am hiểu văn hóa phong tục tập quán và đã được người dân tin tưởng, tín nhiệm. Điều này sẽ giữ vững niềm tin của người dân và tránh tình trạng hành chính hóa, giữ được tính chất của hòa giải ở cơ sở vẫn là mang tính xã hội và dân chủ.

Tuy nhiên, qua thực tiễn có những vướng mắc, do đó cơ quan soạn thảo đề nghị bổ sung cơ chế chỉ định trong một số trường hợp không thể bầu được để bảo đảm duy trì hoạt động thường xuyên của tổ hòa giải. Cơ bản các đại biểu Quốc hội cũng đồng tình với việc bổ sung về bầu và chỉ định.

Đối với một số ý kiến cụ thể liên quan, ví dụ như về hình thức bầu, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, khoản 2 Điều 8 dự thảo luật cũng quy định các hình thức bầu đa dạng chứ không cứng nhắc; có thể là lấy ý kiến bằng phiếu, biểu quyết tại các cuộc họp hoặc bỏ phiếu kín, hoặc là biểu quyết trực tuyến.

"Chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm ý kiến của các đại biểu, ví dụ như biểu quyết qua mạng xã hội hoặc qua hình thức nào đó cho phù hợp, không nhất thiết phải bầu trong cùng một lúc, có thể quyết định thời hạn một ngày, hai ngày, ba ngày… để người dân có thể tham gia được đầy đủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu để cụ thể hóa thêm, có thể là cần thiết quy định trong văn bản dưới luật. Nhưng đưa vào luật một cách chi tiết quá thì chúng tôi sẽ nghiên cứu để giải trình rõ hơn về quy định tiêu chuẩn hòa giải viên, hình thức bầu, trình tự bầu… bảo đảm tỉ lệ", Bộ trưởng nói.

Vấn đề thứ hai được nhiều đại biểu quan tâm về phạm vi hòa giải ở cơ sở, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, mâu thuẫn tranh chấp vi phạm pháp luật nào được hòa giải, vi phạm nào không? Bản chất các vi phạm pháp luật được hòa giải ở cơ sở là đối với các mâu thuẫn tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ trường hợp xâm hại đến lợi ích quốc gia, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội và đã đến ngưỡng phải xử lý hình sự hoặc xử lý hành chính như quy định ở trong Điều 3 của dự thảo luật.

Ở đây, các loại vi phạm pháp luật cụ thể được hòa giải, một số ý kiến đại biểu đề nghị bổ sung xác định làm sao cho rõ hơn để hòa giải viên có thể thực hiện được, tránh những vi phạm mang tính chất hình sự hoặc hành chính mà vẫn đem ra hòa giải. Bộ trưởng chia sẻ vấn đề này: Trong Dự thảo Luật quy định nguyên tắc chung để có thể khái quát được hết, nhưng trong Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành cũng đã có thêm một chương quy định các loại vi phạm pháp luật có thể hòa giải, bao gồm vi phạm pháp luật chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt vi phạm hành chính, đây là hành vi có dấu hiệu vi phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội thấp, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để xử phạt hoặc xử lý; hoặc là vụ việc có dấu hiệu tội phạm nhưng thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì vẫn có thể hòa giải ở cơ sở; hoặc là những vi phạm về phòng chống bạo lực gia đình nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng được khuyến khích hòa giải để ngăn chặn tái diễn và gắn kết quan hệ gia đình, điều đó rất quan trọng; hoặc là vi phạm pháp luật của người chưa thành niên mà cơ quan nhà nước quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, hoặc biện pháp thay thế xử lý hành chính; hoặc là vi phạm pháp luật khác mà pháp luật quy định các bên có thể tự thỏa thuận được thì việc quy định áp dụng cụ thể sẽ có hướng dẫn thêm trong văn bản hướng dẫn của Chính phủ.

Quy định trong luật là nếu trong quá trình hòa giải phát hiện hành vi vi phạm có tính chất nghiêm trọng, đe dọa tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhà nước hoặc của cá nhân thì phải có nghĩa vụ dừng hòa giải ngay.

Theo Bộ trưởng, nguyên tắc ở đây rất rõ ràng. Nếu trong quá trình hòa giải mà có cơ sở để xác định rằng hành vi này là vi phạm pháp luật thuộc phạm vi xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự, thì trách nhiệm của hòa giải viên phải dừng ngay hoạt động hòa giải và báo cáo vụ việc để cơ quan chức năng xem xét. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục tiếp thu ý kiến của các đại biểu để rà soát kỹ lưỡng phần đó và hoàn thiện nội dung, bổ sung điều chỉnh dự thảo luật cho phù hợp.

Liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là vấn đề hòa giải trực tuyến, nhiều đại biểu quan tâm đề nghị là không quy định, nhưng nhiều đại biểu khác tán thành quy định việc hòa giải trực tuyến nhưng cần phải có những quy định nguyên tắc hơn để bảo đảm chặt chẽ, thực hiện đúng bản chất và phải lưu ý là trực tuyến không phải là bắt buộc cứng nhắc; ở vùng sâu vùng xa, ở những khu vực mà chưa đáp ứng được điều kiện về hạ tầng công nghệ thì linh hoạt. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu để bổ sung và trong dự thảo luật thì cũng đã từng bước quy định rõ ràng về lộ trình, không có lộ trình cụ thể ngày tháng, tuy nhiên quy định việc áp dụng là phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Một số vấn đề liên quan đến chính sách hòa giải ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi còn nhiều khó khăn, Bộ trưởng cho biết, trong Dự thảo Luật đây là một điểm mới được quy định rất nhiều quy định bổ sung so với luật hiện hành, từ quy định về cơ chế ưu tiên, quy định về hỗ trợ kinh phí. Về vấn đề này, cơ quan soạn thảo rất muốn quy định chi tiết, tuy nhiên có ràng buộc nhất định liên quan đến việc thực hiện theo Luật Ngân sách Nhà nước.

Kết luận phiên thảo luận tại Hội trường về Dự án Luật hòa giải viên (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho biết, những ý kiến tâm huyết, sâu sắc của các đại biểu Quốc hội là cơ sở quan trọng để cơ quan thẩm tra, cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự thảo luật, bảo đảm cả về nội dung, chính sách, cả về kỹ thuật lập pháp, tăng cường tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật và nâng cao khả năng thực thi sau khi được Quốc hội thông qua.

Cập nhật 10/8/2026


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bản đồ địa giới hành chính
Thống kê truy cập
Hôm nay : 3.771
Hôm qua : 5.366
Tháng 08 : 107.839
Năm 2026 : 3.809.648
Tổng số : 90.326.108