Khơi thông nguồn lực sáng tạo để phát triển công nghiệp văn hóa
Sáng 24/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cùng các kết luận, chỉ đạo có liên quan.
Dự thảo luật được xây dựng theo hướng tiếp cận công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị, phát triển thành ngành kinh tế chiến lược của quốc gia; không quy định lại những chính sách đã có trong luật chuyên ngành mà tập trung bổ sung quy định đối với khoảng trống pháp lý, làm rõ điểm mờ trong tổ chức thực thi và tháo gỡ các điểm nghẽn của pháp luật hiện hành.
Đồng thời, dự thảo quy định những nguyên tắc, cơ chế, chính sách then chốt thuộc thẩm quyền của Quốc hội, hạn chế phát sinh thủ tục hành chính mới, tăng cường phân cấp và hậu kiểm.
Dự thảo luật gồm 8 chương, 39 điều, tập trung vào 6 nhóm chính sách.
Thứ nhất, về sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ, dự thảo lần đầu quy định phần mềm phục vụ sáng tạo và nền tảng số hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là hạ tầng hỗ trợ sáng tạo, lưu vết quá trình sáng tạo để chứng minh, bảo hộ và khai thác thương mại.
Đồng thời, làm rõ căn cứ pháp lý đối với việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và hỗ trợ nâng cao năng lực xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, về nhân lực, dự thảo quy định khung năng lực theo vị trí việc làm, cơ chế, chính sách đặc thù thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia; chính sách học bổng, miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, tín dụng và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo.
Thứ ba, về hạ tầng, dự thảo đề xuất mô hình tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; quy định về công trình, thiết chế phục vụ công nghiệp văn hóa, tổ chức hoạt động sự kiện, đánh giá hiệu quả hạ tầng, sử dụng không gian công cộng và phát triển hạ tầng văn hóa số.
Thứ tư, dự thảo quy định các hoạt động phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và phát triển sản phẩm có giá trị gắn với bản sắc văn hóa Việt Nam.
Thứ năm, về thị trường, dự thảo đề xuất hình thành sàn giao dịch công nghiệp văn hóa để kết nối chủ thể sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ, sản phẩm, nhà đầu tư và người sử dụng; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, phát triển thương hiệu quốc gia, mở rộng thị trường và thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Thứ sáu, về tài chính và ưu đãi đầu tư, dự thảo hướng tới khắc phục khoảng trống pháp luật, huy động nguồn lực xã hội, hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Cần rà soát tính khả thi và thống nhất của các chính sách

Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành luật, ghi nhận cơ quan chủ trì soạn thảo đã chủ động xây dựng báo cáo đánh giá tác động chính sách.
Tuy nhiên, do dự án luật quy định nhiều cơ chế, chính sách đặc thù tác động trực tiếp đến ngân sách nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, Ủy ban đề nghị tiếp tục rà soát, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội; đánh giá cụ thể tính khả thi của các chính sách mới và bổ sung quy định về bình đẳng giới, chính sách dân tộc, bảo vệ lao động nữ và trẻ em.
Về bố cục, Ủy ban cơ bản nhất trí, đồng thời đề nghị quy định đầy đủ các nội dung theo chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư. Đối với 6 nhóm chính sách, cơ quan thẩm tra đề nghị ưu tiên đầu tư vào những ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam có thế mạnh, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, lấy chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp làm trung tâm.
Về hệ sinh thái và thử nghiệm có kiểm soát, cần thống nhất quy định về chủ thể sáng tạo, bao quát cộng đồng dân cư, hộ gia đình, làng nghề; không ưu tiên mô hình du lịch chữa bệnh do không thuộc các ngành công nghiệp văn hóa. Các quy định thử nghiệm có kiểm soát cần bảo đảm tính đặc thù, tránh trùng lặp với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo…
Về quyền sở hữu trí tuệ, Ủy ban tán thành dẫn chiếu pháp luật về doanh nghiệp, tín dụng, giao dịch bảo đảm đối với góp vốn làm tài sản bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ; đề nghị rà soát việc tiếp tục khai thác quyền này thông qua chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng hoặc hình thức hợp pháp khác để thống nhất với Luật Phá sản. Việc miễn trách nhiệm của thẩm định viên về giá cần được cân nhắc kỹ; nếu giữ quy định, phải bổ sung cơ chế kiểm tra, hậu kiểm, phòng ngừa thông đồng, trục lợi.
Về nhân lực, Ủy ban cho rằng việc công nhận Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo tại khoản 1 Điều 14 là chưa hợp lý, bởi đây là danh hiệu vinh dự nhà nước, khác với trình độ đào tạo theo pháp luật về giáo dục.
Đối với giảng viên đồng cơ hữu, cần giới hạn ở nghệ sĩ, nghệ nhân có danh hiệu nêu trên, chuyên gia được đào tạo chuyên sâu hoặc có thành tích nổi trội, kèm cơ chế kiểm soát tránh lạm dụng. Đồng thời, cần cân nhắc mở rộng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cán bộ quản lý giáo dục để tránh mâu thuẫn với Luật Nhà giáo, làm rõ chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao, nhân tài.
Về hạ tầng, Ủy ban đề nghị rà soát quy định thành lập, điều chỉnh cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa để thống nhất với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và Luật Quy hoạch; cân nhắc việc chấp thuận nhà đầu tư không qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu đối với dự án có vai trò hình thành hoặc dẫn dắt hệ sinh thái. Cần rà soát việc sử dụng tài sản công dôi dư, hình thức đối tác công tư, không gian công cộng và làm rõ lộ trình đối với 7 loại công trình phát triển công nghiệp văn hóa.
Ủy ban cũng đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về chủ quyền văn hóa trên không gian mạng, cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm giữa cơ quan quản lý văn hóa với cơ quan quản lý an ninh mạng trong kiểm soát nền tảng xuyên biên giới, bảo vệ kho dữ liệu văn hóa số quốc gia.
Về thị trường, cần thống nhất các khái niệm về tác phẩm, sản phẩm lõi, sản phẩm trọng điểm, sản phẩm có bản sắc văn hóa Việt Nam và tiêu chí cụ thể; làm rõ nội hàm, điều kiện trong giao dịch tài sản, quyền tài sản đang sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Đối với tài chính và ưu đãi đầu tư, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ phạm vi, điều kiện bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng; bổ sung điều kiện bảo đảm quốc phòng, an ninh, cơ chế hậu kiểm và thu hồi ưu đãi khi nhà đầu tư nước ngoài không thực hiện cam kết.
Đồng thời, rà soát các quy định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, hoàn thuế giá trị gia tăng; xác định nguyên tắc hoặc khung, trần mức hoàn thuế, bảo đảm đồng bộ với các luật về thuế đang trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2.
Cập nhật 24/10/2026


