Tăng cường dạy tiếng Nhật tại các trường trung học
![]() |
Tăng cường dạy tiếng Nhật tại các trường trung học
Theo TTXVN - Ngày 8/10, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Quỹ Giao lưu quốc tế Nhật Bản tổ chức Hội nghị tổng kết Đề án dạy thí điểm tiếng Nhật trong các trường phổ thông Việt Nam giai đoạn 2003-2013.
Ngày 8/10, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Quỹ Giao lưu quốc tế Nhật Bản tổ chức Hội nghị tổng kết Đề án dạy thí điểm tiếng Nhật trong các trường phổ thông Việt Nam giai đoạn 2003-2013.
Qua 10 năm triển khai, đến nay đề án đã thu được những kết quả tốt đẹp, tiếng Nhật đã trở thành 1 trong 5 ngoại ngữ chính thức trong chương trình giáo dục phổ thông với tư cách là ngoại ngữ thứ nhất hoặc ngoại ngữ thứ 2.
Kết quả thí điểm và triển khai đại trà ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông cho thấy việc đưa tiếng Nhật vào chương trình giáo dục phổ thông là khả thi và được các địa phương, trường học có nhu cầu và điều kiện chấp nhận và hưởng ứng thực sự. Học sinh hứng thú học tập, yêu thích ngôn ngữ, văn hóa Nhật Bản, tinh thần thái độ học tập nghiêm túc, kết quả học tập được cải thiện qua từng năm học.
Bắt đầu từ năm 2013, Đề án dạy và học tiếng Nhật đã trở thành một hợp phần của ”Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2008-2020.” Xem chi tiết tại đây.
Tin liên quan: Tiếng Nhật sẽ dần trở thành ngoại ngữ phổ biến ở trường học
11.000 học sinh J'rai, Bahnar được học tiếng mẹ đẻ
Theo TTXVN - Tại tỉnh Gia Lai, hơn 11.000 học sinh dân tộc J'rai và Bahnar từ lớp 3 đến lớp 5 của 106 trường tiểu học đã được học tiếng mẹ đẻ trong chương trình như một môn học tự chọn.
Trong đó, số học sinh dân tộc học tiếng J'rai có gần 10.000 em, học tiếng Bahnar 1.200 em.
Từ năm học 2008-2009, tỉnh Gia Lai đã thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số trong các trường tiểu học, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc đồng thời giữ gìn và phát huy được tiếng mẹ đẻ của người J'rai và Bahnar - hai dân tộc chủ yếu trên địa bàn.
Mỗi tuần, các trường đều bố trí giảng dạy 4 tiết học tiếng Bahnar và J'rai trong giờ chính khóa. Một số ít trường do điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất nên bố trí dạy ngoài giờ hoặc vào tiết thứ 6 của buổi học chính khóa nhưng vẫn đảm bảo đủ số tiết học theo quy định.
Đội ngũ tham gia giảng dạy các tiết học bằng tiếng J'rai và Bahnar hiện có 286 giáo viên đều là người dân tộc thiểu số, trong đó giáo viên người J'rai có 254 người và Bahnar có 32 người. 100% giáo viên được đào tạo chính quy chuyên ngành giáo dục tiểu học từ các trường sư phạm. Xem chi tiết tại đây.
Đã đến lúc cần có “cuộc cách mạng” đổi mới tư duy giáo dục
Theo vov.vn - Dự thảo Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ GD-ĐT trình Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, cho ý kiến chỉ đạo vào tháng 10/2013.
Từ khi giành được độc lập (năm 1945) đến nay, nước ta đã 3 lần tiến hành cải cách giáo dục (năm 1950, 1956 và 1981) và đã đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, thời cuộc đã thay đổi, nền giáo dục nay đã bộc lộ những yếu kém bất cập, trong đó có nhiều vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài. Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục đã phát huy tác dụng trong thời gian qua, nhưng nay không còn phù hợp.
Để giáo dục Việt Nam có thể đáp ứng được yêu cầu xã hội và hội nhập với các nước trong khu vực cũng như thế giới, Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” đưa ra 9 nhiệm vụ, giải pháp mà ngành giáo dục cần thực hiện trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh đến Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với quá trình đổi mới giáo dục, trước hết là đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc tư duy giáo dục.
Để giúp độc giả hiểu hơn về nhiệm vụ trên, phóng viên Báo điện tử VOV phỏng vấn GS.TS Phạm Tất Dong, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam.Xem chi tiết tại đây.
8 tháng, 40 học sinh, chấm 2.560 bài
Theo tuoitre.vn - Việc chấm chữa bài hiện nay của giáo viên tiểu học cũng nhọc nhằn không kém. Mỗi tháng điểm (khoảng năm tuần học), giáo viên phải chấm và phê tất cả bài kiểm tra thường xuyên của học sinh.
Một học sinh lớp 4 hay 5 phải làm kiểm tra thường xuyên bốn bài tiếng Việt, hai bài toán, một bài khoa học và một bài sử địa. Nếu lớp học có 40 học sinh thì giáo viên phải chấm và phê 320 bài như thế (8 bài nhân 40 học sinh). Một năm học có tám tháng điểm, giáo viên tiểu học phải chấm 2.560 bài.
Ngoài ra giáo viên còn phải chấm và phê trong vở học sinh. Điều đáng nói là các bài kiểm tra thường xuyên này không ghi vào sổ liên lạc cho phụ huynh xem, cũng không ghi vào học bạ để năm kế tiếp theo dõi mà chỉ để giáo viên ghi vào sổ “Theo dõi và đánh giá xếp loại học sinh tiểu học” cho chính mình xem và ban giám hiệu duyệt định kỳ. Thời gian gần đây khi nói đến việc chấm chữa bài ở tiểu học, các thầy cô đều hết sức ngao ngán bởi tốn quá nhiều thời gian, công sức. Giáo viên tiểu học dạy nhiều môn nên hằng ngày phải chấm rất nhiều bài. Vậy mà chấm bài học sinh, ngoài việc sửa chữa, giáo viên phải ghi lời phê tất cả bài đã chấm, lời phê phải cụ thể, rõ ràng và có tính chất động viên. Nếu chỉ phê ở một số bài làm khi cần thiết như trước đây là điều hết sức thiết yếu thì việc yêu cầu phê tất cả bài đã chấm làm giáo viên tốn nhiều thời gian để ghi và công sức suy nghĩ lời phê thế nào cho đúng yêu cầu. Bài học sinh làm sai ít, hoặc lỗi đôi khi các em mắc phải thì dễ dàng phê, nhưng đối với bài làm các học sinh quá yếu kém thường sai hết chẳng lẽ bài nào giáo viên cũng phê ý giống như nhau. Đối với bài các em làm đạt điểm 9,10 thì phê “giỏi” hay “tiếp thu tốt” là đã đủ các ý cần nói, nhưng với một số trường lại không đồng ý buộc giáo viên phải phê là: “Bài làm của con tốt lắm, câu văn mạch lạc, có hình ảnh sinh động, đáng khen!”, hay: “Con đọc tốt, phát âm rõ, đạt yêu cầu về tốc độ.”... Xem chi tiết.
'Mỹ phẩm trí tuệ' và xu hướng phổ cập đại học
Theo vietnamnet.vn - Báo cáo toàn cầu về tham nhũng trong giáo dục do tổ chức Minh Bạch Quốc Tế công bố mới đây cho thấy, sự gia tăng số lượng sinh viên ở bậc đại học (từ 32 triệu năm 1970 lên tới 159 triệu năm 2008) cho thấy giáo dục ĐH không còn chỉ dành riêng cho những tinh hoa.
Trong bài trả lời phỏng vấn VietNamNet , TS Ngô Tự Lập đã nhận định “Xu hướng phổ cập ĐH không phải là ngẫu nhiên; nó phản ánh những thay đổi sâu sắc về bản chất và chức năng của trường ĐH”.
Vậy bản chất và chức năng của giáo dục ĐH đã thay đổi như thế nào? VietNamNet xin giới thiệu phân tích của TS Ngô Tự Lập. Xem chi tiết tại đây.
Kim Anh (tổng hợp)




